Category Archives: Syndrome (Hội chứng)

Từ điển hội chứng

Ngôn ngữ ngắn gọn những đã có thể nếu bật lên được những thông tin chính từ các hội chứng . Từ điển hội chứng sẽ giúp các bạn vượt qua những khó khăn khi tiếp xúc với các tên riêng của hội chứng. Tải bản đầy đủ  [  Download ]

  1. syndrome A ( Hội chứng Vần A)

  2. Syndrome B ( Hội chứng B)

  3. Syndrome C ( Hội chứng C)

  4. Syndrome D ( Hội chứng D) Read the rest of this entry

Syndrome U V W X Y Z ( Hội chứng U V W X Y Z)

Ullrich I

(Ullrich Otto, nhà nhi khoa người Đức)

(Còn gọi là tình trạng Bonnevie-Ullrich một bên)

Vết chàm cánh bướm một bên cơ thể, thường ở chân tay, rất nhiều các thiểu sản hoặc bất sản của cơ. Các dấu hiệu khác tương tự như trong hội chứng Bonnevie-Ullrich.

Ullrich II

(Còn gọi là bệnh loạn dưỡng cơ mất trương lực xơ hóa di truyền)

Nhiều khả nĂng di truyền kiểu lặn theo nhiễm sắc thể thân (autosoma), gây bệnh cơ có xơ hóa mất trương lực: Bệnh thường có ngay sau khi sanh, hệ cơ bắp yếu nhẽo, đặc biệt là các phần xa (bàn và ngón), hệ cơ trở nên cứng và co thắt cứng, xuất hiện gù vẹo, khó cử động các khớp, đặc biệt là các khớp gôc chi (vai háng). Cũng có thể tổn thương dây sọ, yếu mệt toàn thân. Bệnh về sau thường không phát triển, nhưng thường chết sớm do bệnh gian phát.

Volkmann I

(Volkmann Richard von, nhà phẫu thuật Đức)

(Còn gọi là dị dạng Volkmann)

Bệnh di truyền trội theo nhiễm sắc thể thân, gây sai khớp cả hai mắt cá, mắt cá trong di lệch ra trước, các cơ ở bắp chân bị teo, xương đùi xoay ra ngoài, thường khuyết tật xương mác, đôi khi bất sản hoàn toàn. Tật ngắn chi, bất sản xương quay. Read the rest of this entry

Syndrome T ( Hội chứng T)

Sang’s Blog

Takayasu

(Takayasu Michishiga, bác sỹ Nhật bản)

(Còn gọi là bệnh Takayasu, viêm động mạch cánh tay – đầu)

Viêm động mạch gây tắc nghẽn ở khu vực thân cánh tay – đầuL không sờ được mạch ở tay, mạch ở chân bình thường, hạ huyết áp ở nửa trên cơ thể trong khi lại cao huyết áp ở nửa dưới cơ thể. Nhịp tim nhanh, tĂng mẫn cảm với phản xạ xoang cảnh với khuynh hướng ngất xỉu, tiếng thổi ở quai động mạch chủ, rối loạn thị giác theo chu kỳ thậm chí mù thoáng qua. Cũng có thể tổn thương võng mạc vĩnh viễn do thiếu tưới máu. Đôi khi thay đổi dinh dưỡng của da và cơ, thậm chí teo. rụng rĂng, nghe kém, thậm chí điếc.

Tay-Sachs

(Tay Waren, bác sỹ nhãn khoa Anh và Sachs Bernard P., nhà thần kinh học Mỹ)

(Còn gọi là bệnh Tay-Sachs, chứng ngu đần Tay-Sachs)

Bệnh di truyền lặn theo nhiễm sắc thể thân (autosoma) gây ngu đần và mù ở trẻ em: bệnh khởi phát ngay tháng tuổi thứ 4-6. Giảm thị lực tĂng dần tới mức mù hoàn toàn, thiểu nĂng trí tuệ có thể tới mức ngu đần, các co giật kiểu co cứng – co giật, múa vờn, múa giật, co thắt xoắn vặn. Thoái hóa võng mạc và teo dây thần kinh thị giác. Bệnh kéo dài khoảng 2-3 nĂm. Thường chết do các bệnh gian phát do thiếu izoenzym A. Read the rest of this entry

Syndrome Q R ( Hội chứng Q R)

Quincke

(Quincke Heinrich I., nhà nội khoa người Đức)
(Còn gọi là hội chứng mạc – thần kinh, phù mạch thần kinh, bệnh Bannister, phù Quincke)
Phù mạch thần kinh trên nền tảng dị ứng, đôi khi dị ứng: phù cấp tính ở mặt, nhất là ở môi và mi mắt, chân tay và bộ phận sinh dục ngoài. Thường có nôn ói, tiêu chảy, đau đầu và cả phù phổi. Khi hết các dấu hiệu phù thì thường sẽ tiểu nhiều. Có khuynh hướng tái phát. Đôi khi đồng thời với cơn hoặc sau cơn có kèm các biểu hiện dị ứng khác, như hen phế quản, migren…

Racine

(Racine W., bác sỹ người Thụy sỹ)

Phức bộ các triệu chứng trước kỳ kinh: phù cá tuyến nước bọt, cĂng và phù tuyến sữa. Các dấu hiệu tự hết đi khi có kinh.

Raeder
(Raeder J.G., nhà thần kinh học Na uy)

(Còn gọi là hội chứng giao cảm cận dây V, hội chứng cận đau dây V)

Biểu hiện của đau dây thần kinh cận dây V: đau dữ dội ở một bên, đau theo nhịp đập không tài nào trị được ở trong mắt. Buồn nôn, nôn và co đồng tử. Đau thường bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài cho tới buổi trưa. Thường phụ nữ hay bị hơn. Read the rest of this entry

Syndrome M N O ( Hội chứng M N O)

Mallory-Weiss

(Mallory G. Kenneth, nhà bệnh lý học Mỹ; Weiss Soma, bác sỹ Mỹ)

Các vết rách niêm mạc ở vùng chuyển tiếp thực quản vào dạ dày: nôn ói tái phát, về sau nôn ói ra cả máu. Dấu hiệu X quang âm tính, khi nội soi thấy các vết rách niêm mạc chiều dài 2-4 cm, chủ yếu nằm giữa thực quản và tâm vị. Thường thấy nhất trong những người nghiện rượu.

Marfan I

(Marfan Antonin B., bác sỹ nhi khoa Pháp)

(Còn gọi là hội chứng Marfan-Achard)Phức bộ di truyền trội theo nhiễm sắc thể thân:

A) Các dị dạng thuộc lá phôi giữa (trung bì): a) Xương: ngực hình cái phễu, ngực gà, vẹo lưng, gù lưng, biến đổi yên bướm, chân tay dài một cách bất thường và các ngón như nhện. Lồi xương, gai đôi, các ngón chân cái quẹo ra, tách đôi vòm họng, thiếu rĂng; b) Thiểu sản hệ cơ và mô mỡ, các khớp lỏng lẻo; c) Dị tật bẩm sinh của tim, túi phình động mạch chủ, tĩnh mạch dưới da giãn rộng, số lượng lặp lại các thùy phổi; d) Mắt còn tồn tại màng đồng tử, bệnh cơ, thiếu lông mi, nhãn cầu lớn, củng mạc xanh; e) Mũi to, mặt hình chim, loạn sản vành tai, diện mạo già cỗi. Read the rest of this entry

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 610 other followers