Các bài viết cũ
Một vài tiếng phổi
Giới thiệu đến các bạn tuyển tập một vài tiếng Phổi được trích đăng từ tuyển tập do BS Khôi Bửu siêu tầm
Acute stage of pneumonia
Giai đoạn cấp của viêm phổi
In the acute stage the rales are rough and occur in mid- or end-inspiration.
Trong giai đoạn cấp của viêm phổi, ran phổi thô xảy ra giữa hoặc cuối thì hít vào.
Advanced asbestosis changes
Thay đổi do nhiễm amiăng giai đoạn nặng
Mid- and end-inspiratory rough rales
Ran phổi thô giữa và cuối thì hít vào
Advanced cardiac insufficiency
Suy tim nặng
Mid- and end-inspiratory, soft, rough rales. Note the increased respiratory rate of this patient. Ran thô, nhẹ, giữa và cuối thì hít vào. Để ý nhịp thở nhanh ở bệnh nhân này. Read the rest of this entry
Bệnh nhiễm bột Talc phổi
Bột talc có rất nhiều tính năng như là chất bôi trơn khô, chất hấp thu, và là một bộ phận lọc. Công nhân tiếp xúc với bột talc trong suốt quá trình khai thác mỏ và nghiền các chất khoáng hoặc trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm.
Bệnh nhiễm bột talc tiến triển chậm chạp ở những người tiếp xúc nhiều với bột talc. Bột talc có thể là tinh chất hoặc có lẫn với một số tạp chất như amiăng hoặc các chất khoáng khác.
Phương pháp đo kiểm soát nồng độ bột trong môi trường làm việc là cần thiết để làm giảm tỉ lệ bệnh và mức độ trầm trọng của bệnh bột phổi.
1. Môi trường làm việc:
Talc có công thức hóa học là Hydrated Magnesium Silicate: Mg3SI4O10(OH)2 và cũng có sự hiện diện của nhôm, sắt và canxi trong hợp chất
Bột talc được tạo từ các mỏ đá, là một chất bột mềm và trơn nên được xem là chất bôi trơn khô tốt. Bột talc ít khi thuần khiết và thường có lẫn tạp chất. Bột talc ở dạng tương đối tinh chất được sản xuất ở Pyrenees Pháp, Ý Vermont và ở bất cứ nơi đâu thích hợp cho việc chế tạo mỹ phẩm và dược liệu.
Bột talc đượïc sản xuất từ New York, Texas và những nơi khác chứa đến 50% amiăng, anthophyllite và cũng chứa một lượng muôí Silic tinh thể khác. Loại bột talc này được dùng rộng rãi cho mục đích công nghiệp . Bột talc tinh khiết thì trắng , trong khi bột talc có lẫn tạp chất thì có màu nâu vàng hơi đỏ hoặc màu xám . Read the rest of this entry
Giãn Phế Quản
I / ĐẠI CƯƠNG:
1. Định nghĩa:
Giãn phế quản là tình trạng biến dạng phế quản thường xuyên không hồi phục xảy ra ở các phế quản có kích thước trung bình (từ phế quản cấp 3 đến cấp ) kèm theo thành phế quản bị phá hủy.
Như vậy giãn phế quản tạm thời sau viêm phổi kèm xẹp phổi, viêm khí phế quản hay tắc nghẽn đường thở có thể hồi phục sau vài tuần hay vài tháng không phải là giãn phế quản thực sự.
Giãn phế quản có thể khu trú hay lan tỏa, có thể giãn phế quản lớn còn phế quản nhỏ thì bình thường hay ngược lại.
2. Nguyên nhân giãn phế quản:
Có ba nhóm nguyên nhân chính gây ra giãn phế quản là: viêm nhiễm, tắc nghẽn và co kéo mà cuối cùng đều phá hủy cấu trúc phế quản gây nên giãn. Ngoài ra giãn phế quản còn có thể do bất thường cấu trúc bẩm sinh, do nguyên nhân miễn dịch hay vô căn.
a. Nguyên nhân viêm nhiễm:
Đây là nguyên nhân thường gặp. Viêm phổi do vi rút, do vi trùng; ho gà và quai bị thường gặp trong tiền sử bệnh nhân giãn phế quản dạng nang. Cảm cúm và viêm phổi thủy đậu cũng có thể gây ra giãn phế quản.
Các loại vi khuẩn gây viêm phổi hoại tử như: Klebsiella, Staphylococcus aureus, Pseudomonas và vi trùng yếm khí đều có thể gây giãn phế quản dạng túi. Ngày nay nhiễm trùng tạo u hạt là nguyên nhân thường gặp hơn gồm: lao, Sarcoidosis, Histoplasmosis và Coccidioidomycosis. Lao liên quan đến giãn phế quản chủ yếu thùy trên. Lao cũng là nguyên nhân thường gặp nhất của hội chứng thùy giữa do tắc phế quản thùy giữa và viêm hạch lympho. Read the rest of this entry
Bệnh bụi Silic phổi ( silicosis )
1. Đại cương:
Là một bệnh mạn tính gây ra do hít phải bụi chứa tinh thể silic tự do trong một thời gian dài. Tinh thể silic tự do là một hợp chất có công thức SiO2 và không bao gồm các muối silicates (có chứa Na, K, Ca, Al, Mg và các cation khác).
Silic có chứa trong 25% bề mặt vỏ trái đất và được phân phối rộng rãi trong tự nhiên. Tùy theo từng loại mỏ đá mà có chứa nồng độ silic khác nhau như đá cát kết (sa thạch) chứa 100% silic, còn loại đá phiến sét chỉ chứa 10% silic.
Silic có hai dạng cấu trúc (1) tinh thể, (2) không phải tinh thể.
Ở nhiệt độ cao silic không phải tinh thể có thể chuyển thành silic ở dạng tinh thể. Silic ở dạng tinh thể (quan trọng nhất là dạng alpha-quartz) có đọc tính gây bệnh còn dạng không phải tinh thể thì tương đối vô hại. Silic ở dưới dạng tinh thể mới gây ra hiện tượng sinh sợi trong nhu mô phổi. Ngược lại, silic không ở dưới dạng tinh thể thì phần lớn không có hiện tượng này.
Mặc khác bệnh phổi do bụi silic chỉ xảy ra trong trường hợp tiếp xúc với bụi nhiều và liên tục tại nơi làm việc (trên 5 năm). Tuy nhiên nếu làm việc căng thẳng trong môi trường ô nhiễm bụi silic nặng có thể biểu hiện bệnh sớm hơn. Read the rest of this entry
Bệnh bụi Amiăng ( Amiang )
1. Dịch tễ học:
Amiăng là một hợp chất gồm silicat, sắt, magiê, nhôm, kẽm, kền, … có dạng sợi mãnh, nhỏ. Amiăng là một nguyên liệu quan trọng trong ngành công nghiệp hiện đại, có nhiều ứng dụng: ngói lợp nhà, quần áo chống cháy, bọc dây cách nhiệt, …
Bệnh bụi amiăng là một viêm phổi mô kẽ và xơ hóa do tiếp xúc với những sợi amiăng, gặp ở 10% công nhân làm các vật liệu cách ly có chứa amiăng với thời gian tiếp xúc từ 10 – 19 năm, ở 73% tiếp xúc từ 20 – 29 năm, và ở 92% có thời gian tiếp xúc từ 40 năm trở lên.
Một mối quan hệ liều lượng-phản ứng tương tự cũng được tìm thấy trong ngành kỹ nghệ ximăng có chứa amiăng. Ở Việt Nam, trong những công nhân tiếp xúc bụi trên 10 năm ở một nhà máy ngói ximăng, đã phát hiện có 4,5% bị bệnh bụi amiăng.
Hút thuốc lá có thể ành hưởng đến bệnh bụi amiăng. Những người hút thuốc lá hoặc đã bỏ thuốc lá có một tỉ lệ xuất hiện những hình mờ trên phim lồng ngực có liên quan đến bụi amiăng cao hơn so với những đồng nghiệp không hút. Read the rest of this entry
